Sử dụng lao động nước ngoài phần II


Quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

“Phải thẩm định kỹ phương án sử dụng lao động của nhà thầu ngoại”. Đó là một trong những giải pháp được ông Lê Quang Trung, Phó Cục trưởng Cục Việc làm (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hộiđưa ra trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Đấu thầu về vấn đề quản lý lao động nước ngoài đang làm việc tại nhiều dự án trong nước.                                            

 
Ông Lê Quang Trung cho biết: Các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý lao động nước ngoài nói chung và các lao động nước ngoài làm việc tại các dự án, gói thầu trong nước nói riêng không phải bây giờ mới quy định. Từ năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 105/2003/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành thêm Nghị định 34/2008/NĐ-CP quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài tại Việt Nam (NĐ34) và Nghị định 46/2011/NĐ-CP sửa đổi NĐ34.

Theo ông, thực trạng nhiều lao động phổ thông nước ngoài vào làm việc trái phép tại Việt Nam thời gian qua là do đâu?

Vấn đề người nước ngoài trước khi vào Việt Nam làm việc phải được cấp giấy phép lao động không phải là quy định mới, mà đã có từ năm 2003. Lao động mà chúng ta cấp phép theo quy định của pháp luật là lao động phải có trình độ chuyên môn cao và các đối tượng theo quy định, chúng ta không cấp giấy phép lao động cho các lao động phổ thông người nước ngoài. Tuy nhiên, theo quy định thì những lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam dưới 3 tháng sẽ không phải làm thủ tục cấp giấy phép lao động. Đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam dưới 3 tháng, chủ đầu tư, nhà thầu phải báo cáo danh sách, số lượng lao động này lên Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.

Vừa rồi, sau khi báo chí nêu một số trường hợp nhà thầu ngoại sử dụng lao động nước ngoài trái phép tại Việt Nam, Cục đã tiến hành kiểm tra; và kết quả cho thấy: Việc tuân thủ pháp luật của các nhà thầu là rất kém, không ít nhà thầu không làm thủ tục cho người nước ngoài trước khi vào Việt Nam làm việc, không chuẩn bị các giấy tờ hợp pháp cho người lao động. Thời gian qua, nhiều địa phương đã liên tục tổ chức các đợt thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý, xử phạt các vi phạm theo quy định, nhưng mức xử phạt còn thấp.

Để làm rõ vấn đề này, theo tôi, các chủ đầu tư, bên mời thầu phải làm quyết liệt ngay từ khâu đầu, khâu mời thầu, chấm thầu, xét thầu và đàm phám ký kết hợp đồng với nhà thầu trúng thầu. Quan trọng hơn nữa là việc tổ chức thực hiện các gói thầu, sau khi các nhà thầu nước ngoài đã trúng thầu tại Việt Nam, chủ đầu tư và bên mới thầu cần quản lý thật chặt danh sách lao động đã được đăng ký trong Hồ sơ dự thầu.

Qua kiểm tra tình hình sử dụng lao động nước ngoài trái phép tại các địa phương, ông nhìn nhận thế nào về trách nhiệm các chủ đầu tư để xảy ra vi phạm?

Trong những vấn đề sử dụng lao động nước ngoài trái phép, cần phải có thái độ rõ ràng đối với các nhà thầu nước ngoài đã vi phạm pháp luật Việt Nam khi họ tiếp tục vào tham gia đấu thầu tại các gói thầu trong nước; hoặc cấm không cho tham gia đấu thầu sau khi họ đã vi phạm pháp luật tại Việt Nam. Chúng ta nên coi đây là một điều kiện tiên quyết khi chấp thuận cho nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại Việt Nam.

Hồ sơ mời thầu do chủ đầu tư phê duyệt, chấm thầu, phê duyệt kết quả đấu thầu và đàm phán ký kết hợp đồng với nhà thầu nước ngoài cũng là chủ đầu tư quyết định. Đây là những khâu quyết định số lượng người lao động nước ngoài vào làm việc tại các dự án, gói thầu trong nước. Tuy nhiên, ý thức chấp hành pháp luật của các chủ đầu tư thời gian qua là có vấn đề. Chủ đầu tư không thể chỉ quan tâm đến tiến độ công trình, tiến độ dự án, mà không biết có bao nhiêu lao động nước ngoài đang làm việc trái phép tại công trình của mình. Quá trình kiểm tra tại nhiều dự án cho thấy, một số chủ đầu tư nắm được số lượng người nước ngoài làm việc tại dự án thông qua báo cáo của nhà thầu nước ngoài, nhưng lại không biết họ làm cụ thể những công việc gì, đây là một hạn chế cần được khắc phục.

Chủ đầu tư không thể khoán trắng cho nhà thầu chính, rồi nhà thầu chính lại giao cho nhà thầu phụ. Thời gian tới, trong khâu tổ chức đấu thầu, lựa chọn nhà thầu, chủ đầu tư cần thẩm định kỹ phương án sử dụng lao động của nhà thầu nước ngoài khi họ tham gia đấu thầu tại Việt Nam. Vị trí nào lao động Việt Nam làm được thì dứt khoát phải dành cho lao động trong nước; trong HSMT cần phải có những yêu cầu rõ ràng về phương án sử dụng lao động thi công gói thầu theo như quy định tại các mẫu Hồ sơ mời thầu đã được Bộ KH&ĐT ban hành.

Theo ông, có cần tăng mức xử phạt với nhà thầu nước ngoài có hành vi sử dụng lao động nước ngoài trái phép tại Việt Nam?

Chúng ta cần và tăng mức xử phạt đối với nhà thầu ngoại vi phạm, bởi quy định như hiện nay còn nhẹ. Không chỉ tăng mức xử phạt, để tăng tính răn đe, chúng ta cần phải công khai danh tính của các nhà thầu nước ngoài đã vi phạm pháp luật về sử dụng lao động nước ngoài trái phép tại Việt Nam.

Về hình thức xử lý đối với các trường hợp lao động nước ngoài đang làm việc trái phép tại Việt Nam, với lao động chưa được cấp phép, chúng tôi phân làm 2 loại, loại không đủ điều kiện cấp phép là kiên quyết đưa về nước; loại đủ điều kiện cấp phép thì yêu cầu có thời hạn để làm các thủ tục cấp giấy phép lao động.

“Cần quy định rõ cơ quan chịu trách nhiệm trong việc quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam”

Đó là nhận định của ông Vũ Khoa, Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam. Theo ông Vũ Khoa, khung pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam hiện nay là khá đầy đủ, nhưng việc thực thi của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án hiện nay là chưa nghiêm túc. Các cơ quan quản lý địa phương có nơi không làm, có nơi không hiểu biết đầy đủ pháp luật về quản lý lao động nước ngoài nên chưa giám sát chặt chẽ việc sử dụng lao động nước ngoài trên địa bàn.

Vẫn theo ông Vũ Khoa, tình trạng một số lao động phổ thông nước ngoài đang làm việc trái phép tại nhiều gói thầu, dự án trong thời gian vừa qua là do các chủ đầu tư, ban QLDA dường như chỉ quan tâm đến tiến độ dự án và chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề sử dụng lao động nước ngoài. Bên cạnh việc tăng cường thanh tra, kiểm tra các hành vi vi phạm pháp luật của nhà thầu ngoại liên quan đến sử dụng lao động trái phép, ông Vũ Khoa cũng cho rằng, đã đến lúc cần phải giao cho một cơ quan cụ thể chịu trách nhiệm quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Đặng Tuân